CÔNG TY THÔNG CỐNG NGHẸT THỊNH PHÁT

Tiểu sử Hàn Mặc Tử - Thi hào tài hoa bạc mệnh

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ kiệt xuất của thời kỳ hiện đại, một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam giữa thời hoàng kim của phong trào Thơ mới. Với tài năng xuất chúng của mình, với nỗi đớn đau của định mệnh vô cùng nghiệt ngã. Ông đã hoàn tất sứ mệnh với cuộc đời, để lại cho đời một di sản vô cùng quý báu với nhiều câu thơ kỳ diệu có thể xếp vào hàng hay nhất của thi ca Việt Nam. Với những bạn đang muốn tìm hiểu Hàn Mặc Tử là ai thì hãy cùng điểm qua một số thông tin sau nhé:

Hàn Mặc Tử tên thật là gì?

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí.

Hàn Mặc Tử dân tộc gì?

Hàn Mặc Tử là người dân tộc Kinh.

Hàn Mặc Tử quốc tịch gì?

Hàn Mặc Tử mang quốc tịch Việt Nam.

Hàn Mặc Tử sinh năm bao nhiêu?

Hàn Mặc Tử sinh vào ngày 22 tháng 9 năm 1912.

Hàn Mặc Tử mất khi nào?

Hàn Mặc Tử mất ngày 11 tháng 11 năm 1940.

Hàn Mặc Tử mất bao nhiêu tuổi?

Hàn Mặc Tử mất năm 28 tuổi.

Hàn Mặc Tử cao bao nhiêu?

Thông tin đang được cập nhật.

Hàn Mặc Tử cân nặng bao nhiêu?

Thông tin đang được cập nhật.

Hàn Mặc Tử số đo ba vòng?

Thông tin đang được cập nhật.

Hàn Mặc Tử thuộc cung hoàng đạo nào?

Thông tin đang được cập nhật.

Hàn Mặc Tử quê ở đâu?

Hàn Mặc Tử sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình

Hàn Mặc Tử học trường gì?

Ông theo học ở các trường Tiểu học Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921–1923), Sa Kỳ (1924)... đến năm 1926, cụ thân sinh của Hàn Mặc Tử bị bệnh và mất ở Huế, Hàn Mặc Tử được mẹ cho học tiếp ở trường Pellevin - Huế.

Hàn Mặc Tử học ngành gì?

Thông tin đang được cập nhật.

Hàn Mặc Tử hoạt động nghệ thuật năm nào?

Hàn Mặc Tử bắt đầu sáng tác thơ văn khi ông 16 tuổi ( khoảng năm 1928 - 1929)

Hàn Mặc Tử có vợ chưa?

Hàn Mặc Tử chưa có vợ.

Cha Hàn Mặc Tử là ai?

Cha Hàn Mặc Tử là ông Nguyễn Văn Toản

Mẹ Hàn Mặc Tử là ai?

Mẹ Hàn Mặc Tử là bà Nguyễn Thị Duy.

Hàn Mặc Tử vì sao mất (nếu có)?

Ông mất do bệnh phong ( Một căn bệnh nan y nguy hiểm)

Tiểu sử và sự nghiệp Hàn Mặc Tử - Thi hào tài hoa của Việt Nam

Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí hay Phê Rô Phanxicô Nguyễn Trọng Trí (22 tháng 9 năm 1912 – 11 tháng 11 năm 1940) là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn.

Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế đổi họ Nguyễn theo họ mẹ. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), sinh hạ được 8 người con

Hàn Mặc Tử sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình khi ông Nguyễn Văn Toản đang làm Chủ sự Sở Thương Chánh Nhật Lệ – Đồng Hới; lớn lên, Hàn Mặc Tử theo cha đi nhiều nơi và theo học ở các trường Tiểu học Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921–1923), Sa Kỳ (1924)... đến năm 1926, cụ thân sinh của Hàn Mặc Tử bị bệnh và mất ở Huế, Hàn Mặc Tử được mẹ cho học tiếp ở trường Pellevin - Huế. Năm 1930, Hàn Mặc Tử mới thôi học theo mẹ vào Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Gia đình ông theo đạo Công giáo, ông được rửa tội tại Nhà thờ Tam Tòa với tên thánh là Phê Rô Phanxicô.

Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do cha ông là Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên Hàn Mặc Tử cũng đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921–1923), Pellerin Huế (1926).

Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sĩ này. Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo. Sau này, ông nhận một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền.

Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.

Hàn Mặc Tử
Chân dung Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử và chứng bệnh nan y chết người

Sinh thời, nhà thơ tài hoa mắc phải một chứng bệnh khốc hại (bệnh phong) mà cho tới nay người đời vẫn cứ đinh ninh rằng Hàn Mặc Tử sớm phải lìa xa cõi thế cũng vì chứng nan y này.

Rất ít người biết được rằng, từ sau khi được người anh rể (chồng của chị Lễ), một viên chức làm việc trong ngành xét nghiệm phát hiện bị mắc bệnh phong. Suốt bốn năm trời chạy chữa và dưỡng bệnh ấy, dẫu rằng có rất nhiều người bạn, người tình trong mộng đến bên cạnh nhà thơ Hàn Mặc Tử. Vậy mà “vết thương tâm” trong nhà thơ vẫn cứ mỏi mòn.

Theo gia đình Hàn Mặc Tử, thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập "Gái quê", rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại "phong ngứa" gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y. Năm 1938 - 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi. Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc "găng" tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng.

Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile - Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn. Bác sĩ nói rằng: Bệnh cùi rất khó phân biệt. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được. Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy. Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên.

Thời đó, vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bệnh nhân thường bị hắt hủi, cách ly, xa lánh, thậm chí bị ngược đãi. Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người. Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi, xét về mặt hiệu quả chữa trị là phản khoa học vì lẽ ra phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa. Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được. Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa nhà thơ đi trại phong sớm. Bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử qua đời do nội tạng hư hỏng quá nhanh vì uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa.

Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại đây vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28.

Cuộc đời thi hào Hàn Mặc Tử có duyên với 4 chữ Bình: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình, có người yêu ở Bình Thuận và mất tại Bình Định. Ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.

Bút danh Hàn Mặc Tử

Nguyễn Trọng Trí làm thơ từ năm 16 tuổi lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh. Đến năm 1936, khi chủ trương ra phụ trương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, sau ông lại đổi thành Hàn Mặc Tử. "Hàn Mạc Tử" nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. "Mặt Trăng khuyết" đã được "đặt vào" chữ "Mạc" thành ra chữ "Mặc". Hàn Mặc Tử có nghĩa là "chàng trai bút nghiên".

Thi hào hàn mặc tử
Nhà thơ Hàn Mặc Tử

Hàn Mạc Tử được người đời sau vinh danh

Hàn Mặc Tử được biết đến là chủ soái của trường thơ loạn (Chế Lan Viên, Yến Lan, Bích Khê).

Nhiều nơi ở Việt Nam dùng tên của ông để đặt cho đường phố như:

Bà Rịa - Vũng Tàu (Đường Hàn Mạc Tử, phường 7, Vũng Tàu)

Đà Nẵng (Đường Hàn Mạc Tử, phường Thuận Phước, Hải Châu)

Đắk Lắk (Đường Hàn Mặc Tử, phường Tân An, Buôn Ma Thuột)

Huế (Đường Hàn Mạc Tử, phường Vỹ Dạ, Huế, Thừa Thiên Huế)

Nghệ An (Đường Hàn Mạc Tử, phường Trung Đô, Vinh)

Phan Thiết (con đường dẫn lên Lầu Ông Hoàng)

Quảng Bình (Đường Hàn Mặc Tử, phường Đồng Mỹ, Đồng Hới)

Thanh Hóa (Phố Hàn Mặc Tử, phường Trường Thi, Thanh Hóa)

Thành phố Hồ Chí Minh (Đường Hàn Mạc Tử, phường Số 12, Tân Bình và ở phường Tân Thành, Tân Phú), đường Nguyễn Trọng Trí, Quận Bình Tân, gần Bến xe Miền Tây.

Sáng tác văn nghệ về Hàn Mặc Tử

Năm 2004, Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) đã thực hiện bộ phim Hàn Mặc Tử để kỷ niệm ông.

Hàn Mặc Tử và phong cách sáng tác

Là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ mới. Thế giới văn chương của ông luôn phong phú đầy màu sắc mang đậm phong cách cá nhân. Ông đã đưa vào Thơ mới sự sáng tạo, những hình ảnh đầy ấn tượng. Thế giới nội tâm đa dạng Hàn Mặc Tử đem đến cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm để đời. Ngoài sử dụng bút pháp lãng mạn, ông còn sử dụng bút pháp tượng trưng và bút pháp siêu thực.

Đọc thơ của Hàn Mặc Tử ta bắt gặp một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu con người da diết. Một khát vọng sống đến mãnh liệt đến đau đớn tột cùng. Một người thi sĩ đa tài nhưng cuộc sống ngắn ngủi. Mặc dù ra đi ở tuổi đời rất trẻ nhưng sự nghiệp Thơ ca của ông vô cùng đồ sộ.

nhà thơ hàn mặc tử
Thi hào Hàn Mặc Tử

Sự Nghiệp Của Nhà Thơ Hàn Mặc Tử

Nhà thơ Hàn Mặc Tử là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là nhà thơ tiên phong cho Trường thơ loạn. Ngoài bút danh Hàn Mặc Tử ông còn có một số bút danh khác như: Lệ Thanh, Phong Trần,…

Hàn Mặc Tử bén duyên với thơ ca từ rất trẻ, năm 16 tuổi ông đã bắt đầu sáng tác thơ với bút danh là Lệ Thanh, Phong Trần. Đến năm 1936 ông đổi bút danh là Hàn Mạc Tử, sau đó lại đổi thành Hàn Mặc Tử.

Ông có một thời gian sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, tại đây ông làm phóng viên phụ trách cho tờ báo “Công luận”. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.

Năm 1940, khi vừa bước sang tuổi 28 Hàn Mặc Tử mắc căn bệnh phong và qua đời ở một độ tuổi rất trẻ. Thế nhưng những tác phẩm của ông để lại cho nền văn học Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi sĩ.

Hàn Mặc Tử - cái chết được báo trước trong thơ

Phong không phải là căn bệnh có thể làm chết người một cách nhanh chóng. Đó là căn bệnh chủ yếu làm cho con người bị tàn phế. Một bệnh nhân cùng nhập viện với Hàn Mặc Tử tên là Nguyễn Văn Xê vẫn tiếp tục sống thêm 55 năm nữa sau khi Tử qua đời.

Có lẽ thi sĩ cũng biết điều đó vì anh rể của ông hồi đó là y tá trong Bệnh viện Quy Nhơn và thi sĩ cũng là người có trình độ hiểu biết cao. Nhưng Tử vẫn luôn luôn nghĩ về cái chết.

Tử đã đoán trước được ngày mình sẽ ra đi. Trong bài Trút linh hồn chàng viết: "Máu đã khô rồi, thơ cũng khô/ Tình ta chết yểu tự bao giờ/ Từ nay trong gió, trong mây gió/ Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ". Đó là một lời tuyên bố chắc chắn. Từ khi viết bài thơ này cho đến lúc Tử ra đi là khoảng thời gian khá xa và Tử mất là vì bệnh kiết lỵ. Thế nhưng, chàng vẫn viết: "Ta trút linh hồn giữa lúc đây/ Gió sầu vô hạn nuối trong cây/ Còn em sao chẳng hay gì cả/ Xin để tang anh đến vạn ngày".

Em ở đây là ai? Có lẽ cả Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình lẫn Thương Thương và nhiều hình bóng giai nhân khác. Tất cả những nàng thơ ấy, lúc này đều đã rời xa chàng. Cách đó một thời gian, chàng đã tạm biệt Thương Thương theo lời đề nghị của người anh ruột nàng là Trần Tái Phùng: "Than ơi! Hỡi! Biệt ly chan chứa/ Tưởng cùng em vui thú hưởng tiêu dao/ Anh sắp đi và hai hàng lệ ứa/ Cả đau thương dồn dập xót tâm bào".

Lúc này, nhiều câu thơ Tử làm ra cứ như lời tiên tri về cái chết. Đây không phải là đặc điểm của những bài thơ thuộc Trường thơ loạn như đã nói trước đây. Bởi chẳng hạn trong Điêu tàn, Chế Lan Viên cũng có dùng những từ ngữ để chỉ sự chết chóc nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng thần chết ở đâu mà chỉ là biểu hiện của triết lý thơ điên loạn mà thôi. Còn một số câu thơ Tử viết về cái chết thì lại khác. Ý thơ rất "gở". Chẳng hạn: "Ta còn trìu mến biết bao người/ Vẻ đẹp xa hoa của một thời/ Đầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng/ Ôi! Giờ hấp hối sắp chia phôi".

Khoảng giữa tháng 9/1940, Tử nhắn Quách Tấn từ Nha Trang ra Quy Nhơn gặp chàng. Lúc này chàng đã được làm xét nghiệm và người ta đã phát hiện ra vi trùng Hansen trong cơ thể chàng.

Tử di ngôn lại cho Quách Tấn lo giữ gìn tài sản văn chương của chàng, sau này chàng chết đi thì tùy theo đó mà xử lý. Rồi chàng nhập bệnh viện phong. Nhập viện để chữa trị căn bệnh phong nhưng chàng coi như mình sắp đi vào cõi chết. Vì sao vậy?

Trong Duyên kỳ ngộ, nhân vật Nàng có nói: "Sao thơ anh nhuộm toàn màu ly biệt/ Rên không thôi và nức nở cả ban đêm". Quả đúng như vậy. Ly biệt và chết chóc luôn có mặt trong thơ Tử vào thời gian sau này: "Lòng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt/ Mộng có thành là mộng ở đầu hôm", "Không ai trang điểm má đào/ Cho ta say chết đêm nào đêm nay"... Quách Tấn cho biết, viết thư cho bạn, Tử hay nói về cái chết: "Đó là ngưỡng cửa phải bước qua để đi đến cõi vĩnh hằng". Cũng trong vở kịch thơ độc đáo này, có một đoạn thơ làm cho nhiều người ngạc nhiên vì nó rất giống những gì xảy ra sau này. Đó là khi nhân vật Chàng sắp sửa chia tay nhân vật Nàng, đã thốt ra lời than khóc: "Một mai kia ở bên khe nước ngọc/ Với sương sao anh nằm chết như trăng/ Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc/ Đến hôn anh và rửa vết thương tâm". Theo hồi ức của người bạn đồng bệnh Nguyễn Văn Xê thì Tử mất vào ngày 11/11/1940 trong cô đơn lặng lẽ, không có bất kỳ một người thân nào bên cạnh. Ngay buổi chiều ngày hôm đó, tang lễ được tiến hành một cách đơn giản. Nơi Hàn Mặc Tử yên nghỉ nằm bên cạnh con suối, về mùa mưa nước thường dâng đầy bờ. Điều này y như câu thơ trên mà chàng đã viết trước đó rất lâu.

Chàng đã nằm lại bên "khe nước ngọc" đó cho đến gần 20 năm sau mới được gia đình đưa đi nơi khác. Năm 1959, gia đình Tử cùng với người bạn thân là Quách Tấn tìm một mảnh đất khác cho chàng. Sinh thời, chàng rất thích cảnh Đèo Son nhưng vì ở đó đang là khu quân sự thuộc chính quyền Sài Gòn nên đành phải tìm đến Gành Ráng. Ngày 13/1/1959, Tử được cải táng về Gành Ráng.

Như vậy là, một đời thơ dữ dội của nhà thơ có số phận lạ kỳ Hàn Mặc Tử đã kết thúc. Chàng đã được thỏa mãn cái ước ao mà ngày nào vị phó soái của Trường thơ loạn Chế Lan Viên từng viết: "Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa/ Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/ Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo".

hàn mặc tử
Hàn Mặc Tử và những mối tình đau khổ

Hàn Mặc Tử: Những cuộc tình đau đớn nhưng giúp viết nên kiệt tác

Thi sĩ về với Chúa, không có người thân, bạn bè, hay một người con gái nào ông yêu ở bên, chỉ có tiếng sóng biển và tiếng những đồi thông reo. Trong tình yêu lứa đôi, Hàn Mặc Tử chỉ biết yêu người, chứ chẳng hề đòi hỏi người ta có yêu mình không. Thậm chí nhiều mối tình chỉ đem lại sự cô đơn, nhưng thi sĩ vẫn yêu và vẫn viết những vần thơ cháy bỏng về tình yêu.

Hàn Mặc Tử yêu Mộng Cầm bằng tất cả những gì tươi mới, hồ hởi nhất của tuổi trẻ. Ông coi nàng như nguồn sống, nguồn thi hứng của ông, nhưng chính nàng lại gây cho ông một niềm đau.

Hàn Mặc Tử yêu Mộng Cầm từ những ngày còn làm báo ở Sài Gòn. Tuần nào thi sĩ cũng đi xe lửa ra Phan Thiết để gặp nàng thơ của mình. Thế nhưng, Mộng Cầm lại sớm phát hiện ra Hàn Mặc Tử mắc chứng phong. Trong cuốn Văn Thi sĩ tiền chiến tác giả Nguyễn Vỹ cho biết sau này Mộng Cầm đã tiết lộ điều này với Châu Hải Kỳ. Trong bài Tôi đã gặp Mộng Cầm - “Ngươi yêu” của Hàn Mặc Tử, đăng trên Tạp chí Phổ thông, số 63, 15/8/1961, Châu Hải Kỳ đã kể lại câu chuyện đó.

Mộng Cầm có học ở nhà thương, nên biết triệu chứng của bệnh phong, khi tiếp xúc với thi sĩ trên chuyến đò từ Mũi Né về Phan Thiết, Mộng Cầm đã thấy Hàn Mặc Tử có những dấu hiệu về bệnh này. Nhưng chỉ đến khi gặp Nguyễn Thông bạn học cũ, lại làm cùng Hàn Mặc Tử ở sở Đạc điền Quy Nhơn, nàng mới thực sự xác tín.

Hàn Mặc Tử ngỏ lời với Mộng Cầm trong một chiều thứ bảy, hai người đi chơi ở lầu Ông Hoàng. Nhưng Mộng Cầm đã trả lời rằng, “không thể đi đến trăm năm”, để cho chàng đỡ hy vọng. Thực ra, nàng biết Hàn Mặc Tử có mệnh yểu, khó có thể thọ lâu, mà nàng cần một người đàn ông khỏe mạnh, tráng kiện. Để chàng khỏi buồn, nàng đã viện lý do khác nhau về tôn giáo. Nếu theo như những gì Mộng Cầm kể lại với Châu Hải Kỳ, thì khả năng nhiều chỉ có Hàn Mặc Tử yêu bà. Còn bà quý mến thi sĩ theo một cách khác, kiểu như một “fan” hâm mộ thơ ông, chứ không hẳn là yêu ông.

Người con gái thứ hai Hàn Mặc Tử yêu say đắm là Hoàng Cúc, cô thôn nữ có những nét quê, duyên dáng, thùy mị, nết na. Dù chưa phải là một mối tình tới mức “trăm năm cùng già” (như Quách Tấn chia sẻ trong sách Hàn Mặc Tử - Thơ Và Đời, NXB Văn học, 1995), nhưng cũng khiến chàng thi sĩ ôm mộng tương tư, để rồi kết thành tập Gái quê.

Năm 1939, Hoàng Cúc theo về cựu Thần kinh (Huế). Đối với thi sĩ, việc này chẳng khác gì cô đi lấy chồng, khiến ông cũng rất buồn đau và cô đơn. Sau này, nàng có gửi thư hỏi thăm hỏi kèm theo một phiến (ảnh) phong cảnh cho ông. Đáp lại tấm chân tình của người con gái phương xa, Hàn Mặc Tử đã viết nên tuyệt phẩm Đây thôn Vĩ Dạ để gửi tặng nàng.

Một người con gái khác là Mai Đình, tên thật là Lê Thị Mai, quê Thanh Hóa, là người học thức và rất ái mộ thơ của Hàn Mặc Tử. Theo Thế Phong thuật lại trong Nữ sỹ Mai Đình (in trong Hàn Mặc Tử - Tác gia tác phẩm, NXB Giáo Dục, 2002) Mai Đình đã đến tìm Hàn Mặc Tử nhiều lần, nhưng thi sĩ nhất quyết tránh.

Đấy là lúc Hàn Mặc Tử bị bệnh phong nặng. Biết Tử gặp khó khăn, năm 1938 nàng ngỏ ý muốn giúp ông một chút tiền, nhưng ông nhất quyết không nhận. Mai Đình cương quyết không nghe, nàng tuyên bố: Hàn như chồng chính thức. Và nàng bước vào đời Hàn như một người vợ. Mãi sau khi đã thực sự khó khăn, ông mới đành phải nhận tiền của nàng, thông qua người nhà. Mai Đình cũng in đậm trong thơ của Hàn Mặc Tử, nhất là trong những bài xướng họa giữa hai người. Bên cạnh đó bóng dáng của Mai Đình còn thấp thoáng trong tập Thượng thanh khí, một tập thơ khá khó đọc, bởi sự tượng trưng của nó.

Hàn Mặc Tử: Bút tích của thi sĩ còn lại

Đến những ngày cuối đời, Trần Thanh Địch vì thương bạn nên nghĩ ra kế, mượn cái tên Thương Thương viết thư cho Tử. Những bức thư được Thanh Địch soạn ra, sau nhờ nét bút của một nữ sinh viết lại. Thỉnh thoảng Hàn Mặc Tử nhận được thư của Thương Thương. Đây là một “nguồn thơ mới” cho thi sĩ, để ông hoàn thành những bài thơ cuối đời, và kịch thơ Cầm châu duyên và Quần tiên hội, mà nguyên mẫu của Quần tiên hội được cho là, không ai khác ngoài Thương Thương.

Theo Quách Tấn, Hàn Mặc Tử mường tượng Thương Thương là nàng tiên đẹp tuyệt trần, không gợn chút mảy may trần cấu. Đó là vẻ đẹp hoàn mĩ, nó tinh khiết đến thánh thiện, chỉ có thể cảm được, chứ khó mà nắm bắt được nó... Rồi thế gian lại như sụp xuống, khi Hàn Mặc Tử biết được sự thực về Thương Thương. Đúng lúc này bệnh tình của ông nặng lên, phải đưa vào nhà thương, bác sĩ nói bệnh ông khó chữa, vì đã dùng quá nhiều loại thuốc có độc tố, gây tổn hại đến nội tạng. Và chàng thi sĩ tài hoa bạc mệnh đã qua đời khi  vừa tròn 28 tuổi.

Trên đây là những thông tin chính về tiểu sử Hàn Mặc Tử. Mong rằng những thông tin này giúp chúng ta hiểu được một phần nào đó về cuộc đời và tài năng của chàng thi sĩ bạc mệnh này.

Đăng nhập để post bài